Trường hợp các bên không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết tranh chấp thì Tòa án lập biên bản hòa giải không thành và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Thời hạn chuẩn bị xét xử đối với vụ án phát sinh tranh chấp từ hợp đồng tín dụng là 02 tháng
Khóa luận Tốt nghiệp Học viện Tài i LỜI CAM ĐOAN Tơi xin cam đoan cơng trình nghiên cứu riêng cá nhân Các số liệu thơng tin khóa luận có nguồn gốc trung thực xuất phát từ tình hình thực tế Ngân hàng An Bình Chi Nhánh Hải Phịng Sinh viên thực tập VŨ KHẮC TỒN SV: Vũ Khắc
Ngày 16/5, Hội đồng nhân dân tỉnh tổ chức Hội nghị triển khai việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do HĐND bầu hoặc phê chuẩn, nhiệm kỳ 2011 – 2016. Đồng chí Giàng Páo Mỷ - Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội, Chủ tịch HĐND tỉnh chủ trì Hội nghị. Dự Hội nghị có
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PÁC NẶM, TỈNH BẮC KẠN. BẢN ÁN 02/2021/DS-ST NGÀY 30/09/2021 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG. Ngày 30 tháng 9 năm 2021 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Pác Nặm xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 10/2021/TLST- DS ngày 13 tháng 7 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2019
Tóm tắt Bản án số 01/2022/KDTM-ST ngày 11/03/2022 Về tranh chấp hợp đồng xây d Bài viết Thủ tục pháp luật Hướng dẫn sử dụng Xếp hạng Hỏi đáp pháp luật Bạn muốn truy cập vào Dash board của công ty nào ?
UBND tỉnh Thanh Hoá vừa có Văn bản số 15454/UBND-THKH ngày 17/10/2022 về việc tạm dừng thực hiện chủ trương đầu tư dự án Khu đô thị mới phía Đông đường vành đai phía Tây TP.Thanh Hoá với tổng mức đầu tư gần 1.200 tỷ đồng.
Sau đây là mẫu Luận văn thạc sĩ Luật học với đề tài luận văn là Tranh chấp hợp đồng tín dụng theo luật tố tụng dân sự. Hy vọng đề tài luận văn thạc sĩ này sẽ giúp các bạn có thêm tài liệu tham khảo khi viết luận văn tốt nghiệp của mình. Một số tài liệu có phí, các bạn xem thêm nội dung dưới bài
rtBoG. Ngày đăng 04/09/2021, 2125 Trong thời buổi kinh tế thị trường phát triển như hiện nay thì nhu cầu về vật chất lẫn tinh thần của con người ngày càng đòi hỏi cao hơn, kinh tế cũng ngày một khó khăn và tính cạnh tranh ngày càng cao. Chính vì vậy, mà để đáp ứng nhu cầu của bản thân mà không ít người sẳn sàng đi vay, mượn nợ, thế chấp, cầm cố,… để đáp ứng những nhu cầu cần thiết của họ. Do đó, dẫn đến không ít những tranh chấp xoay quanh vấn đề vay, mượn nợ, thế chấp, cầm cố,… và một trong số đó tranh chấp nhiều nhất là về hợp đồng tín dụng vay tài sản cụ thể là bản án 432018DSST ngày 07062018 về tranh chấp hợp đồng tín dụng vay tài sản. Bản án 432018DSST ngày 07062018 về tranh chấp hợp đồng tín dụng vay tài sản là vụ án tranh chấp giữa ngân hàng thương mại cổ phần V nguyên đơn với ông Lâm Thành C cùng vợ là bà Trần Thị Ngọc P bị đơn và bà Nguyễn Thị Thiên L Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Vào ngày 2742016 Ngân hàng thương mại cổ phần V – Chi nhánh Nam Bình Dương ký hợp đồng tín dụng vay tài sản với vợ chồng ông Lâm Thành C và bà Trần Thị Ngọc P số 48520168510081HĐTD. BÌNH LUẬN VỀ BẢN ÁN Trong thời buổi kinh tế thị trường phát triển nhu cầu vật chất lẫn tinh thần người ngày đòi hỏi cao hơn, kinh tế ngày khó khăn tính cạnh tranh ngày cao Chính vậy, mà để đáp ứng nhu cầu thân mà khơng người sẳn sàng vay, mượn nợ, chấp, cầm cố, … để đáp ứng nhu cầu cần thiết họ Do đó, dẫn đến khơng tranh chấp xoay quanh vấn đề vay, mượn nợ, chấp, cầm cố, … số tranh chấp nhiều hợp đồng tín dụng vay tài sản - cụ thể án 43/2018/DS-ST ngày 07/06/2018 tranh chấp hợp đồng tín dụng vay tài sản Bản án 43/2018/DS-ST ngày 07/06/2018 tranh chấp hợp đồng tín dụng vay tài sản vụ án tranh chấp ngân hàng thương mại cổ phần V nguyên đơn với ông Lâm Thành C vợ bà Trần Thị Ngọc P bị đơn bà Nguyễn Thị Thiên L Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Vào ngày 27/4/2016 Ngân hàng thương mại cổ phần V – Chi nhánh Nam Bình Dương ký hợp đồng tín dụng vay tài sản với vợ chồng ông Lâm Thành C bà Trần Thị Ngọc P số 485/2016/8510081/HĐTD Theo hợp đồng, số tiền vay đồng với mục đích vay để mua xe tơ con, thời hạn vay 84 tháng, lãi suất hạn 9,5%/năm cố định 24 tháng đầu năm kể từ thời điểm giải ngân lần đầu Sau đó, áp dụng lãi suất thả nổi, điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần theo sách lãi suất ngân hàng áp dụng thời kỳ, lãi suất hạn 150% lãi suất hạn Trả nợ vào ngày 10 tây hàng tháng, ngày 10/6/2016, ngày trả nợ gốc cuối ngày 27/4/2023 hàng tháng ông C, bà P phải trả số tiền vay đồng Ngày 27/4/2016 ngày ký hợp đồng tín dụng hai bên ký kết hợp đồng chấp tài sản số 409/2016/8510081/HĐBĐ, tài sản chấp xe ô tơ hiệu Chevrolet Aveo LT Q trình thực hợp đồng, ơng C bà P tốn cho Ngân hàng V tổng số tiền nợ vay đồng, số tiền vay gốc đồng số tiền lãi đồng từ ngày 13/6/2016 đến ngày 21/7/2017 ngưng khơng tốn nên dẫn đến khoản nợ vay bị hạn Tổng dư nợ tạm tính đến hết ngày 07/6/2018 đồng, nợ gốc đồng, nợ lãi hạn đồng lãi hạn đồng Trong trường hợp, tiền lãi phát sinh tiếp tục tính theo thỏa thuận hợp đồng tín dụng số 485/2016/8510081/HĐTD kể từ ngày 08/6/2018 toán xong khoản nợ Bị đơn – ông Lâm Thành C bà Trần Thị Ngọc P vắng mặt tồn q trình giải vụ án Ông Lâm Thành C vợ bà Trần Thị Ngọc P bị đơn bà Nguyễn Thị Thiên L Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tồn q trình giải vụ án Căn vào Khoản Điều 26, Điểm a Khoản Điều 35, Điểm b Khoản Điều 39, Điều 147, Khoản Điều 227, Điều 228, Điều 238 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463, Điều 299 Bộ luật Dân năm 2015; Điều 91 Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị số 326/2016/UBTVQH14 quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí lệ phí tồ án Tịa án tuyên Chấp nhận toàn yêu cầu khởi kiện nguyên đơn; Buộc Lâm Thành C bà Trần Thị Ngọc P có trách nhiệm tốn cho Ngân hàng thương mại cổ phần V số tiền nợ phát sinh từ hợp đồng tín dụng số 485/2016/8510081/HĐTD ngày 27/4/2016 đồng, nợ gốc đồng, nợ lãi hạn đồng lãi hạn đồng; Trường hợp ông Lâm Thành C bà Trần Thị Ngọc P khơng tốn nợ, Ngân hàng thương mại cổ phần V quyền yêu cầu Chi cục thi hành án dân có thẩm quyền phát tài sản đảm bảo xe ôtô hiệu Chevrolet Aveo LT; Tiền lãi tiếp tục tính kể từ ngày 08/6/2018 ơng Lâm Thành C bà Trần Thị Ngọc P trả xong khoản nợ mức lãi suất thỏa thuận hợp đồng tín dụng số 485/2016/8510081/HĐTD ngày 27/4/2016; Ơng Lâm Thành C bà Trần Thị Ngọc P phải chịu đồng án phí dân sơ thẩm; Trả lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần V đồng tiền tạm ứng án phí nộp; Ngun đơn có quyền kháng cáo án thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo án thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận án án niêm yết; Trường hợp định thi hành theo quy định Điều Luật thi hành án dân người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án bị cưỡng chế thi hành án theo quy định Điều 6,7 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án thực theo quy định Điều 30 Luật thi hành án dân Quyết định án Tịa án sơ thẩm hồn tồn hợp lý, dựa chứng xác thực, pháp lý rõ ràng, cụ thể, phán mang tính cơng bằng, nghiêm minh, tuân theo quy định pháp luật điều thể qua luận điểm sau Thứ nhất, tố tụng Căn theo định Bộ luật Tố tụng dân năm 2015 Điều 175, 177 “ Thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn tố tụng” Điều 196 “ Thông báo việc thụ lý vụ án” với Điều 208 “ Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng hòa giải” Điều 220 “ Quyết định đưa vụ án xét xử”, tòa án tiến hành thông báo tống đạt hợp lệ văn tố tụng cho ông Lâm Thành C vợ bà Trần Thị Ngọc P bị đơn bà Nguyễn Thị Thiên L Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan điều hoàn toàn hợp lý với quy định pháp luật để bị đơn người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nắm bắt tình hình họ cố tình vắng mặt Tiếp tục theo quy định Bộ luật Tố tụng dân năm 2015 Khoản Điều 227, Điều 228 Tịa án tiến hành triệu tập bị đơn người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan họ lại cố tình vắng mặt, tức họ gián tiếp từ bỏ quyền lợi Vì Tồ án có quyền theo quy định pháp luật mà tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Thứ hai, quan hệ tranh chấp Căn theo quy định Khoản Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân 2015 tranh chấp giao dịch dân sự, hợp đồng dân Căn theo Khoản 16 Điều “cho vay tài sản hình thức cấp tín dụng, theo bên cho vay giao cam kết giao cho khách hàng khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định thời gian định theo thỏa thuận với ngun tắc có hồn trả gốc lãi” Và theo Điều 463 Bộ luật Dân năm 2015 quy định “hợp đồng vay tài sản thỏa thuận bên, theo bên cho vay giao tài sản cho bên vay; đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản loại theo số lượng, chất lượng phải trả lãi có thỏa thuận pháp luật có quy định” Từ nhận thấy tranh chấp hợp đồng tín dụng vay tài sản điển hình Tranh chấp hợp đồng tín dụng vay tài sản trở nên phổ biến mà việc xác định quan hệ tranh chấp dễ dàng, khó nhầm lẫn Thứ ba, thẩm quyền giải vụ án Căn theo quy định Điểm a Khoản Điều 35; Điểm b Khoản Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân 2015 trường hợp này, theo thơng tin nội dung thỏa thuận hợp đồng tín dụng số 485/2016/8510081/HĐTD ngày 27/4/2016 điểm b mục có thỏa thuận với việc có phát sinh tranh chấp thầm quyền giải thuộc Tịa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải Tòa án nhân dân thị xã Thuận An Tòa án nhân dân cấp huyện Thứ tư, nội dung Hợp đồng tín dụng số 485/2016/8510081/HĐTD ngày 27/4/2016 ký kết dựa tự nguyện hai bên thỏa thuận, hai bên đọc đồng ý điều khoản ghi hợp đồng, hợp đồng có hiệu lực pháp lý kể từ thời điểm ký kết Thời gian đầu ông C bà P thực tốt ngĩa vụ toán nợ, toán cho Ngân hàng V số tiền vay gốc đồng, số tiền lãi đồng Nhưng kể từ ngày 21/7/2017 đến thời điểm Ngân hàng V khởi kiện, ơng C bà P khơng tốn tiếp số tiền nợ đến hạn, ông C bà P vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận Do đó, bảo vệ quyền lợi ngân hàng V tiến hành khởi kiện ông C bà P yêu cầu phải toán nợ có sở ơng C bà P vi phạm nghĩa vụ toán nợ Hợp đồng chấp tài sản số 409/2016/8510081/HĐBĐ ngày 27/4/2016 ký kết với người có thẩm quyền, thủ tục đăng ký giao dịch bảo đảm nên phát sinh hiệu lực Căn theo Khoản Điều 95 Luật tổ chức tín dụng 2010 quy định “Trong trường hợp khách hàng không trả nợ đến hạn, bên khơng có thỏa thuận khác tổ chức tín dụng có quyền xử lý nợ, tài sản bảo đảm tiền vay theo hợp đồng cấp tín dụng, hợp đồng bảo đảm quy định pháp luật” Do đó, ơng C, bà P khơng tốn nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng thỏa thuận xe tơ hiệu Chevrolet Aveo LT tài sản đảm bảo ông C, bà P dùng để phát để toán nghĩa vụ trả nợ theo quy định pháp luật Thứ năm, tiền lãi Căn theo Khoản Điều 91 Luật tổ chức tín dụng 2010 quy định “Tổ chức tín dụng khách hàng có quyền thỏa thuận lãi suất, phí cấp tín dụng hoạt động ngân hàng tổ chức tín dụng theo quy định pháp luật” Vì thế, ơng C bà P phải theo mức lãi suất thỏa thuận hợp đồng tín dụng số 485/2016/8510081/HĐTD ngày 27/4/2016 để tiến hành toán nợ cho ngân hàng V Thứ sáu, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thiên L Do suốt trình giải vụ án bà Nguyễn Thị Thiên L vắng mặt, không cung cấp chứng chứng minh tài sản chấp nên quyền lợi bà L không xem xét vụ án Thứ bảy, Về án phí dân sơ thẩm Căn vào Điểm c Khoản Điều 11 Khoản Điều 12 nghị số 326/2016/UBTVQH14 quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí lệ phí Tồ án quy định “ngân hàng sách xã hội khởi kiện vụ án kháng cáo án, định chưa có hiệu lực pháp luật Tịa án để thu hồi nợ vay trường hợp Ngân hàng sách xã hội cho vay người nghèo đối tượng sách khác” “Trường hợp đương thỏa thuận bên chịu toàn án phí phần số tiền án phí phải nộp mà bên chịu tồn án phí phần số tiền án phí phải nộp thuộc trường hợp miễn nộp tiền án phí Tịa án xem xét miễn án phí phần mà người thuộc trường hợp miễn phải chịu theo quy định, Nghị Phần án phí, lệ phí Tịa án mà người nhận nộp thay người khác khơng miễn nộp” Dó đó, ơng C bà P phải chịu án phí dân sơ thẩm theo quy định pháp luật; trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí nộp Từ lập luận cho thấy, việc tòa án chấp nhận toàn yêu cầu khởi kiện nguyên đơn theo quy định pháp luật phán tịa án có sở pháp lý rõ ràng, hợp lý Tuy nhiên, nhiều trường hợp cần nên xem xét đến nguyên bị đơn khơng tốn nợ Trong thời gian đầu bị đơn thực nghĩa vụ tốn nợ cho ngân hàng V tốt Nên có ngun đặc biệt nên bị đơn không tiếp tục thực nghĩa vụ tốn nợ, xem xét đến yếu tố đưa phản cuối Nhưng điều thực tế bị đơn vắng mặt suốt trình diễn vụ án, tức họ từ bỏ quyền lợi mình, điều thiệt thịi lớn cho họ họ khơng biết họ khơng có mặt tịa án tun án họ phải chấp hình theo định tịa án tun, không chấp hành bị cưỡng chế thi hành Thật ra, án 43/2018/DS-ST ngày 07/06/2018 tranh chấp hợp đồng tín dụng vay tài sản án đáng ta phải suy ngẫm có cách nhìn nhận thực tế, thiết thật hình thức vay này, đừng nên nhìn thấy lợi, mong muốn trước mắt mà bỏ qua hậu sau TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG BẢN ÁN 43/2018/DS-ST NGÀY 07/06/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG VAY TÀI SẢN Ngày 07 tháng năm 2018, trụ sở Toà án nhân dân thị xã Thuận An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân thụ lý số 12/2018/TLST-DS ngày 17 tháng 01 năm 2018 việc tranh chấp hợp đồng tín dụng vay tài sản, theo Quyết định đưa vụ án xét xử số 27/2018/QĐXXST-DS ngày 27 tháng năm 2018, giữa Nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần V; trụ sở chính Số 35, quận K, Thành phố H; địa chi nhánh Nam Bình Dương Số 10, KCN A, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương; Người đại diện hợp pháp nguyên đơn Ông Bùi Tá H, sinh năm 1983; trú tại 3/2 ấp B, xã T, huyện T1, tỉnh Đ – Là người đại diện theo ủy quyền nguyên đơn theo Quyết định ủy quyền ngày 02/01/2018 Có mặt Bị đơn Ông Lâm Thành C, sinh năm 1984 bà Trần Thị Ngọc P, sinh năm 1988; trú tại 33 Lô V, Phường 8, Quận 4, Thành phố M Vắng mặt Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bà Nguyễn Thị Thiên L, sinh năm 1972; trú tại 132/1 ấp G, xã G3, huyện N, tỉnh N1 Vắng mặt NỘI DUNG VỤ ÁN Theo đơn khởi kiện đề ngày 02/01/2018, lời khai trình giải vụ án phiên tòa, người đại diện hợp pháp theo ủy quyền nguyên đơn trình bày Thực việc ủy quyền Ngân hàng thương mại cổ phần V viết tắt Ngân hàng V, ngày 27/4/2016 Ngân hàng thương mại cổ phần V – Chi nhánh Nam Bình Dương có ký hợp đồng tín dụng vay tài sản với vợ chồng ông Lâm Thành C bà Trần Thị Ngọc P số 485/2016/8510081/HĐTD Theo hợp đồng, Ngân hàng thương mại cổ phần V – Chi nhánh Nam Bình Dương cho ơng C, bà P vay số tiền đồng, mục đích vay để mua xe ô tô con, thời hạn vay 84 tháng, lãi suất hạn 9,5%/năm cố định 24 tháng đầu năm kể từ thời điểm giải ngân lần đầu Sau đó, áp dụng lãi suất thả nổi, điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần theo sách lãi suất ngân hàng áp dụng thời kỳ, lãi suất hạn 150% lãi suất hạn Trả nợ vào ngày 10 tây hàng tháng, ngày 10/6/2016, ngày trả nợ gốc cuối ngày 27/4/2023 theo lịch cụ thể hàng tháng ông C, bà P trả số tiền vay đồng Để đảm bảo khoản nợ trên, ông C, bà P Ngân hàng V – Chi nhánh Nam Bình Dương ký kết hợp đồng chấp tài sản số 409/2016/8510081/HĐBĐ ngày 27/4/2016, tài sản chấp xe ô tô hiệu Chevrolet Aveo LT, số khung RllSF69YDGH933520, số máy F15S3160110011, biển số Phịng CSGT-ĐS Cơng an Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 25/4/2016 cho ơng Lâm Thành C Tài sản chấp đăng ký giao dịch bảo đảm vào ngày 27/3/2008 Trung tâm đăng ký giao dịch tài sản Đà Nẵng theo quy định pháp luật Q trình thực hợp đồng, ơng C, bà P toán cho Ngân hàng V tổng số tiền nợ vay đồng, số tiền vay gốc đồng, số tiền lãi đồng từ ngày 13/6/2016 đến ngày 21/7/2017 ngưng khơng tốn nên dẫn đến khoản nợ vay bị hạn chuyển thành nợ xấu Tổng dư nợ tạm tính đến hết ngày 07/6/2018 đồng, nợ gốc đồng, nợ lãi hạn đồng lãi hạn đồng Nay Ngân hàng thương mại cổ phần V khởi kiện yêu cầu Tòa án giải buộc ông Lâm Thành C bà Trần Thị Ngọc P toán cho Ngân hàng V tổng số tiền đồng, nợ gốc đồng, nợ lãi hạn đồng lãi hạn đồng Tiền lãi phát sinh tiếp tục tính theo thỏa thuận hợp đồng tín dụng số 485/2016/8510081/HĐTD kể từ ngày 08/6/2018 toán xong khoản nợ Trường hợp ông Lâm Thành C bà Trần Thị Ngọc P không tự nguyện thực đúng, đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng thương mại cổ phần V quyền yêu cầu quan thi hành án xử lý tài sản bảo đảm hợp pháp ông Lâm Thành C bà Trần Thị Ngọc P xe ôtô hiệu Chevrolet AveoLT, biển số để thu hồi nợ Bị đơn – ông Lâm Thành C bà Trần Thị Ngọc P vắng mặt tồn q trình giải vụ án Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thiên L vắng mặt tồn q trình giải vụ án Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến việc tuân theo pháp luật tố tụng trình giải vụ án nội dung giải vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tịa q trình thụ lý, giải vụ án phiên tòa xét xử thực trình tự, thủ tục pháp luật quy định Bộ luật Tố tụng dân Nguyên đơn chấp hành pháp luật tố tụng, bị đơn không chấp hành pháp luật tố tụng xem từ bỏ quyền nghĩa vụ chứng minh Về nội dung vụ án, xét thấy yêu cầu khởi kiện nguyên đơn bị đơn có nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN Sau nghiên cứu tài liệu có hồ sơ vụ án thẩm tra phiên Tòa, vào kết tranh tụng phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định [1] Về tố tụng Tồ án tiến hành thơng báo tống đạt hợp lệ văn tống tụng cho bị đơn người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định Điều 175, 177, 196, 208 Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân năm 2015 bị đơn ông Lâm Thành C, bà Trần Thị Ngọc P người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thiên L cố tình vắng mặt Như vậy, việc bị đơn người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt xem từ bỏ quyền trình bày, đưa chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp Do đó, Tồ án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định pháp luật Khoản Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân năm 2015 [2] Về quan hệ tranh chấp Căn giấy đề nghị vay vốn, hợp đồng tín dụng số 485/2016/8510081/HĐTD ngày 27/4/2016 hợp đồng chấp tài sản số 409/2016/8510081/HĐBĐ ngày 27/4/2016 ký kết Ngân hàng thương mại cổ phần V với ông Lâm Thành C bà Trần Thị Ngọc P thể nội dung Ngân hàng thương mại cổ phần V có cho ơng C, bà P vay số tiền đồng, mục đích vay để mua xe tơ con, thời hạn vay 84 tháng, chấp tài sản xe ô tô hiệu Chevrolet Aveo LT, số khung RllSF69YDGH933520, số máy F15S3160110011, biển số nên quan hệ tranh chấp tranh chấp hợp đồng tín dụng vay tài sản theo quy định Khoản Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân Điều 471 Bộ luật Dân năm 2005 nay Điều 463 Bộ luật Dân năm 2015 [3] Về thẩm quyền giải quyết Căn đơn khởi kiện nội dung thỏa thuận điểm b mục Hợp đồng tín dụng số 485/2016/8510081/HĐTD ngày 27/4/2016 vụ án thuộc thẩm quyền giải Tòa án nhân dân thị xã Thuận An theo quy định Điểm a Khoản Điều 35; Điểm b Khoản Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân [4] Về nội dung Xét hợp đồng tín dụng số 485/2016/8510081/HĐTD ngày 27/4/2016 giao kết Ngân hàng V với ông Lâm Thành C bà Trần Thị Ngọc P thể ý chí tự nguyện thỏa thuận hai bên Q trình thực hợp đồng, ơng C, bà P toán cho Ngân hàng V số tiền vay gốc đồng, số tiền lãi đồng Kể từ ngày 21/7/2017 đến thời điểm Ngân hàng V khởi kiện, ông C, bà P không tốn tiếp số tiền nợ đến hạn, ơng C, bà P vi phạm nghĩa vụ trả tiền gốc lãi theo thỏa thuận, làm ảnh hưởng đến quyền lợi Ngân hàng V Do đó, nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần V khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Lâm Thành C bà Trần Thị Ngọc P phải toán cho Ngân hàng V tổng số tiền đồng, nợ gốc đồng, nợ lãi hạn đồng lãi hạn đồng có sở chấp nhận Xét hợp đồng chấp tài sản số 409/2016/8510081/HĐBĐ ngày 27/4/2016 Ngân hàng thương mại cổ phần V với ông Lâm Thành C bà Trần Thị Ngọc P ký kết với người có thẩm quyền, thủ tục đăng ký giao dịch bảo đảm nên phát sinh hiệu lực Theo đó, ơng C bà P dùng tài sản xe ô tô hiệu Chevrolet Aveo LT, số khung RllSF69YDGH933520, số máy F15S3160110011, biển số ông Lâm Thành C đứng tên giấy đăng ký xe ô tô để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ Nay ông C, bà P khơng tốn nợ nên Ngân hàng có quyền yêu cầu quan thi hành án phát tài sản đảm bảo để toán nghĩa vụ trả nợ [4] Tiền lãi tiếp tục tính kể từ ngày 08/6/2018 ông Lâm Thành C bà Trần Thị Ngọc P trả xong khoản nợ theo mức lãi suất thỏa thuận hợp đồng tín dụng số 485/2016/8510081/HĐTD ngày 27/4/2016 [5] Đối với hợp đồng cho vay tiền ngày 23/7/2017 bà Nguyễn Thị Thiên L với ông Lâm Thành C bà Trần Thị Ngọc P nguyên đơn cung cấp nội dung “ Ông Lâm Thành C bà Trần Thị Ngọc P đồng ý chấp xe ô tô hiệu Chevrolet Aveo LT, số khung RllSF69YDGH933520, số máy F15S3160110011, biển số giao toàn giấy chứng nhận quyền sở hữu cho bà Nguyễn Thị Thiên L…” Xét trình giải vụ án, ông Lâm Thành C, bà Trần Thị Ngọc P bà Nguyễn Thị Thiên L vắng mặt, không cung cấp chứng chứng minh tài sản chấp nên không xem xét vụ án này, bên có tranh chấp khởi kiện vụ án khác [6] Từ phân tích trên, chấp nhận toàn yêu cầu khởi kiện nguyên đơn Đề nghị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An phù hợp [7] Về án phí dân sơ thẩm Bị đơn ông Lâm Thành C bà Trần Thị Ngọc P phải chịu án phí dân sơ thẩm theo quy định pháp luật; trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí nộp Vì lẽ trên, QUYẾT ĐỊNH Căn cứ - Khoản Điều 26; Điểm a Khoản Điều 35; Điểm b Khoản Điều 39; Điều 147; Khoản Điều 227; Điều 228; Điều 238 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; - Điều 471, Điều 355 Bộ luật Dân năm 2005 nay Điều 463, Điều 299 Bộ luật Dân năm 2015 - Điều 91 Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; - Nghị số 326/2016/UBTVQH14 quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí lệ phí Tồ án 1 Chấp nhận toàn yêu cầu khởi kiện nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần V việc tranh chấp hợp đồng tín dụng vay tài sản với bị đơn ông Lâm Thành C bà Trần Thị Ngọc P Buộc Lâm Thành C bà Trần Thị Ngọc P có trách nhiệm tốn cho Ngân hàng thương mại cổ phần V số tiền nợ phát sinh từ hợp đồng tín dụng số 485/2016/8510081/HĐTD ngày 27/4/2016 đồng Ba trăm hai mươi bảy triệu, ba trăm lẻ chín nghìn, ba trăm năm mươi bảy đồng, nợ gốc đồng, nợ lãi hạn đồng lãi hạn đồng Trường hợp ông Lâm Thành C bà Trần Thị Ngọc P khơng tốn nợ, Ngân hàng thương mại cổ phần V quyền yêu cầu Chi cục thi hành án dân có thẩm quyền phát tài sản đảm bảo xe ôtô hiệu Chevrolet Aveo LT, số khung RllSF69YDGH933520, số máy F15S3160110011, biển số ông Lâm Thành C đứng tên giấy đăng ký xe ôtô theo hợp đồng chấp tài sản số 409/2016/8510081/HĐBĐ ngày 27/4/2016 Tiền lãi tiếp tục tính kể từ ngày 08/6/2018 ơng Lâm Thành C bà Trần Thị Ngọc P trả xong khoản nợ mức lãi suất thỏa thuận hợp đồng tín dụng số 485/2016/8510081/HĐTD ngày 27/4/2016 Án phí dân sơ thẩm Ơng Lâm Thành C bà Trần Thị Ngọc P phải chịu đồng Mười sáu triệu, ba trăm sáu mươi lăm nghìn, bốn trăm sáu mươi bảy đồng án phí dân sơ thẩm Trả lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần V đồng Bảy triệu, tám trăm ba mươi sáu nghìn, chín trăm sáu mươi sáu đồng tiền tạm ứng án phí nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tịa án số 0018410 ngày 16/01/2018 Chi cục Thi hành án dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương Ngun đơn có quyền kháng cáo án thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo án thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận án án niêm yết Trường hợp định thi hành theo quy định Điều 2, Luật thi hành án dân người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án bị cưỡng chế thi hành án theo quy định Điều 6,7 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án thực theo quy định Điều 30 Luật thi hành án dân - Xem thêm -Xem thêm Bình luận về bản án tranh chấp hợp đồng tín dụng vay tài sản,
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG BẢN ÁN 43/2018/DS-ST NGÀY 07/06/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG VAY TÀI SẢN Ngày 07 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Thuận An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 12/2018/TLST-DS ngày 17 tháng 01 năm 2018 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng vay tài sản, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2018/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 4 năm 2018, giữa Nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần V; trụ sở chính Số 35, quận K, Thành phố H; địa chỉ chi nhánh Nam Bình Dương Số 10, KCN A, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương; Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn Ông Bùi Tá H, sinh năm 1983; trú tại 3/2 ấp B, xã T, huyện T1, tỉnh Đ – Là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn theo Quyết định ủy quyền ngày 02/01/2018. Có mặt. Bị đơn Ông Lâm Thành C, sinh năm 1984 và bà Trần Thị Ngọc P, sinh năm 1988; cùng trú tại 33 Lô V, Phường 8, Quận 4, Thành phố M. Vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bà Nguyễn Thị Thiên L, sinh năm 1972; trú tại 132/1 ấp G, xã G3, huyện N, tỉnh N1. Vắng mặt. NỘI DUNG VỤ ÁN Theo đơn khởi kiện đề ngày 02/01/2018, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày Thực hiện việc ủy quyền của Ngân hàng thương mại cổ phần V viết tắt là Ngân hàng V, ngày 27/4/2016 Ngân hàng thương mại cổ phần V – Chi nhánh Nam Bình Dương có ký hợp đồng tín dụng vay tài sản với vợ chồng ông Lâm Thành C và bà Trần Thị Ngọc P số 485/2016/8510081/HĐTD. Theo hợp đồng, Ngân hàng thương mại cổ phần V – Chi nhánh Nam Bình Dương cho ông C, bà P vay số tiền đồng, mục đích vay là để mua xe ô tô con, thời hạn vay là 84 tháng, lãi suất trong hạn là 9,5%/năm cố định trong 24 tháng đầu năm kể từ thời điểm giải ngân lần đầu. Sau đó, áp dụng lãi suất thả nổi, điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần theo chính sách lãi suất của ngân hàng áp dụng trong từng thời kỳ, lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn. Trả nợ vào ngày 10 tây hàng tháng, bắt đầu từ ngày 10/6/2016, ngày trả nợ gốc cuối cùng là ngày 27/4/2023 theo lịch cụ thể hàng tháng ông C, bà P trả số tiền vay là đồng. Để đảm bảo khoản nợ trên, ông C, bà P và Ngân hàng V – Chi nhánh Nam Bình Dương ký kết hợp đồng thế chấp tài sản số 409/2016/8510081/HĐBĐ ngày 27/4/2016, tài sản thế chấp là chiếc xe ô tô con hiệu Chevrolet Aveo LT, số khung RllSF69YDGH933520, số máy F15S3160110011, biển số do Phòng CSGT-ĐS Công an Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 25/4/2016 cho ông Lâm Thành C. Tài sản thế chấp được đăng ký giao dịch bảo đảm vào ngày 27/3/2008 tại Trung tâm đăng ký giao dịch tài sản tại Đà Nẵng theo đúng quy định của pháp luật. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông C, bà P đã thanh toán được cho Ngân hàng V tổng số tiền nợ vay là đồng, trong đó số tiền vay gốc là đồng, số tiền lãi là đồng từ ngày 13/6/2016 đến ngày 21/7/2017 thì ngưng không thanh toán cho đến nay nên dẫn đến khoản nợ vay bị quá hạn và chuyển thành nợ xấu. Tổng dư nợ tạm tính đến hết ngày 07/6/2018 là đồng, trong đó nợ gốc là đồng, nợ lãi trong hạn đồng và lãi quá hạn là đồng. Nay Ngân hàng thương mại cổ phần V khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Lâm Thành C và bà Trần Thị Ngọc P thanh toán cho Ngân hàng V tổng số tiền là đồng, trong đó nợ gốc là đồng, nợ lãi trong hạn đồng và lãi quá hạn là đồng. Tiền lãi phát sinh được tiếp tục tính theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số 485/2016/8510081/HĐTD kể từ ngày 08/6/2018 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ. Trường hợp ông Lâm Thành C và bà Trần Thị Ngọc P không tự nguyện thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng thương mại cổ phần V được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý tài sản bảo đảm hợp pháp của ông Lâm Thành C và bà Trần Thị Ngọc P là chiếc xe ôtô hiệu Chevrolet AveoLT, biển số để thu hồi nợ. Bị đơn – ông Lâm Thành C và bà Trần Thị Ngọc P vắng mặt toàn bộ quá trình giải quyết vụ án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thiên L vắng mặt toàn bộ quá trình giải quyết vụ án. Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và nội dung giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa xét xử đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục được pháp luật quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật tố tụng, bị đơn không chấp hành đúng pháp luật tố tụng xem như đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình. Về nội dung vụ án, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết. NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định [1] Về tố tụng Toà án đã tiến hành thông báo và tống đạt hợp lệ các văn bản tống tụng cho bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo đúng quy định tại các Điều 175, 177, 196, 208 và Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhưng bị đơn ông Lâm Thành C, bà Trần Thị Ngọc P và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thiên L vẫn cố tình vắng mặt. Như vậy, việc bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được xem là từ bỏ quyền trình bày, đưa ra chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Do đó, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật tại Khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. [2] Về quan hệ tranh chấp Căn cứ giấy đề nghị vay vốn, hợp đồng tín dụng số 485/2016/8510081/HĐTD ngày 27/4/2016 và hợp đồng thế chấp tài sản số 409/2016/8510081/HĐBĐ ngày 27/4/2016 được ký kết giữa Ngân hàng thương mại cổ phần V với ông Lâm Thành C và bà Trần Thị Ngọc P thể hiện nội dung Ngân hàng thương mại cổ phần V có ông C, bà P vay số tiền đồng, mục đích vay là để mua xe ô tô con, thời hạn vay là 84 tháng, có thế chấp tài sản là chiếc xe ô tô con hiệu Chevrolet Aveo LT, số khung RllSF69YDGH933520, số máy F15S3160110011, biển số nên quan hệ tranh chấp là tranh chấp hợp đồng tín dụng vay tài sản theo quy định tại Khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2005 nay là Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015. [3] Về thẩm quyền giải quyết Căn cứ đơn khởi kiện và nội dung thỏa thuận tại điểm b mục 8 Hợp đồng tín dụng số 485/2016/8510081/HĐTD ngày 27/4/2016 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Thuận An theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm b Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. [4] Về nội dung Xét hợp đồng tín dụng số 485/2016/8510081/HĐTD ngày 27/4/2016 được giao kết giữa Ngân hàng V với ông Lâm Thành C và bà Trần Thị Ngọc P đã thể hiện ý chí tự nguyện thỏa thuận giữa hai bên. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông C, bà P đã thanh toán được cho Ngân hàng V được số tiền vay gốc là đồng, số tiền lãi là đồng. Kể từ ngày 21/7/2017 đến thời điểm Ngân hàng V khởi kiện, ông C, bà P không thanh toán tiếp số tiền nợ đến hạn, như vậy ông C, bà P đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền gốc và lãi theo thỏa thuận, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của Ngân hàng V. Do đó, nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần V khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Lâm Thành C và bà Trần Thị Ngọc P phải thanh toán cho Ngân hàng V tổng số tiền là đồng, trong đó nợ gốc là đồng, nợ lãi trong hạn đồng và lãi quá hạn là đồng là có cơ sở chấp nhận. Xét hợp đồng thế chấp tài sản số 409/2016/8510081/HĐBĐ ngày 27/4/2016 giữa Ngân hàng thương mại cổ phần V với ông Lâm Thành C và bà Trần Thị Ngọc P được ký kết với người có thẩm quyền, đúng thủ tục và được đăng ký giao dịch bảo đảm nên phát sinh hiệu lực. Theo đó, ông C và bà P đã dùng tài sản là chiếc xe ô tô con hiệu Chevrolet Aveo LT, số khung RllSF69YDGH933520, số máy F15S3160110011, biển số do ông Lâm Thành C đứng tên trên giấy đăng ký xe ô tô để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ. Nay ông C, bà P không thanh toán nợ nên Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mãi tài sản đảm bảo để thanh toán nghĩa vụ trả nợ. [4] Tiền lãi được tiếp tục tính kể từ ngày 08/6/2018 cho đến khi ông Lâm Thành C và bà Trần Thị Ngọc P trả xong các khoản nợ theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 485/2016/8510081/HĐTD ngày 27/4/2016. [5] Đối với hợp đồng cho vay tiền ngày 23/7/2017 giữa bà Nguyễn Thị Thiên L với ông Lâm Thành C và bà Trần Thị Ngọc P do nguyên đơn cung cấp có thể hiện nội dung “...Ông Lâm Thành C và bà Trần Thị Ngọc P đồng ý thế chấp chiếc xe ô tô con hiệu Chevrolet Aveo LT, số khung RllSF69YDGH933520, số máy F15S3160110011, biển số và giao toàn bộ bản chính giấy chứng nhận quyền sở hữu cho bà Nguyễn Thị Thiên L…”. Xét quá trình giải quyết vụ án, ông Lâm Thành C, bà Trần Thị Ngọc P và bà Nguyễn Thị Thiên L đều vắng mặt, không cung cấp chứng cứ chứng minh về tài sản thế chấp nên không xem xét trong vụ án này, nếu các bên có tranh chấp sẽ khởi kiện bằng vụ án khác. [6] Từ những phân tích trên, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An là phù hợp. [7] Về án phí dân sự sơ thẩm Bị đơn ông Lâm Thành C và bà Trần Thị Ngọc P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật; trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp. Vì các lẽ trên, QUYẾT ĐỊNH Căn cứ - Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm b Khoản 1 Điều 39; Điều 147; Khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; - Điều 471, Điều 355 Bộ luật Dân sự năm 2005 nay là Điều 463, Điều 299 Bộ luật Dân sự năm 2015. - Điều 91 và Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. 1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần V về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng vay tài sản với bị đơn ông Lâm Thành C và bà Trần Thị Ngọc P. Buộc Lâm Thành C và bà Trần Thị Ngọc P có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần V số tiền còn nợ phát sinh từ hợp đồng tín dụng số 485/2016/8510081/HĐTD ngày 27/4/2016 là đồng Ba trăm hai mươi bảy triệu, ba trăm lẻ chín nghìn, ba trăm năm mươi bảy đồng, trong đó nợ gốc là đồng, nợ lãi trong hạn đồng và lãi quá hạn là đồng. Trường hợp ông Lâm Thành C và bà Trần Thị Ngọc P không thanh toán nợ, Ngân hàng thương mại cổ phần V được quyền yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản đảm bảo là chiếc xe ôtô con hiệu Chevrolet Aveo LT, số khung RllSF69YDGH933520, số máy F15S3160110011, biển số do ông Lâm Thành C đứng tên trên giấy đăng ký xe ôtô theo hợp đồng thế chấp tài sản số 409/2016/8510081/HĐBĐ ngày 27/4/2016. Tiền lãi được tiếp tục tính kể từ ngày 08/6/2018 cho đến khi ông Lâm Thành C và bà Trần Thị Ngọc P trả xong các khoản nợ mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 485/2016/8510081/HĐTD ngày 27/4/2016. 2. Án phí dân sự sơ thẩm Ông Lâm Thành C và bà Trần Thị Ngọc P phải chịu đồng Mười sáu triệu, ba trăm sáu mươi lăm nghìn, bốn trăm sáu mươi bảy đồng án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần V đồng Bảy triệu, tám trăm ba mươi sáu nghìn, chín trăm sáu mươi sáu đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0018410 ngày 16/01/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương. 3. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. 4. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2, Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nguồn
Sau đây Equity Law Firm xin được tư vấn về nội dung sau VỤ ÁN TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG Do tính chất bảo mật thông tin vụ án nên toàn bộ Thông tin cá nhân, Tên địa phương, Tên cơ quan hành chính đã được mã hóa I. TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN * Nội dung Ngân hàng TM TNHH MTV Đông Dương Nguyên Đơn trình bày Ngày 26/04/2014, Công ty TNHH Ansaka “Công ty Ansaka” và Ngân hàng TM TNHH MTV Đông Dương “Dongduong Bank” ký với nhau Hợp đồng tín dụng số 0008/2014/ ký ngày 26/2/2214, theo đó Công ty Ansaka vay Dongduong Bank VND, thời hạn vay 06 tháng kể từ ngày giải ngân đầu, mục đích vay để bổ sung vốn thanh toán tiền nhập hàng theo Hợp đồng kinh tế số 05/02/2014/HĐKT ngày 27/02/2014 giữa Công ty Ansaka và Công ty TNHH TM và DV SX Ngọc Phương, lãi suất 12%/năm; Lãi suất quá hạn Bằng 150% lãi suất cho vay tại thời điểm phát sinh khoản nợ quá hạn; lãi suất phạt chậm trả Bằng 150% lãi suất cho vay tại thời điểm phát sinh khoản nợ chậm trả. Hết thời hạn vay, Công ty Ansaka không trả nợ gốc và lãi trong hạn cho Dongduong Bank. Số tiền Công ty Ansaka còn nợ theo Hợp đồng tín dụng tạm tính đến ngày Dongduong Bank khởi kiện tạm tính đến ngày 01/06/2015 là VND, trong đó Nợ gốc VND, nợ lãi VND Để đảm bảo cho khoản vay theo hợp đồng tín dụng Dongduong Bank và Công ty Ansaka ký hợp đồng cầm cố tài sản hình thành từ vốn vay số ngày 28/02/2014 và Hợp đồng thế chấp tài sản của bên thứ ba số 0016/2016/2014/HĐTC/ ngày 26 tháng 02 năm 2014 giữa bên nhận thế chấp DongduongBank PGD Lê Văn Lương và bên thế chấp ông Lê Văn Kháng, địa chỉ Số 02, ngõ 3, Ngô Gia Khảm, phường Yết Kiêu, quận Hà Bình, thành phố HT. Tài sản thế chấp gồm + Tài sản thứ nhất gồm 350 bình nước nóng ROSSI loại 15l, 20l, 30l theo hợp đồng kinh tế số 05-02/2014/HĐKT ngày 27/02/2014 giữa Công ty TNHH Ansaka và Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Sản xuất Ngọc Phương. Tổng là VND. + Tài sản thứ hai gồm Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của bên thứ 3 theo Giấy chứng nhận QSDĐ số BH 865245, số vào sổ cấp GCN CH- 0245 do UBND quận Hà Bình, thành phố HT cấp ngày 29/06/2012 cho ông Lê Văn Kháng và bà Phạm Thị Ngân ông Kháng đăng ký sang tên do thừa kế theo hồ sơ số 24378 ngày 19/11/2013, tại địa chỉ Số nhà 102 dãy A3 khu tập thể Công ty Máy kéo, phường Yết Kiêu, quận Hà Bình, thành phố HT. Tại phiên Tòa Dongduong Bank đề nghị Buộc Công ty Ansaka phải trả cho Dongduong Bank toàn bộ nợ gốc, nợ lãi tạm tính đến 15/10/2020 là VND trong đó Nợ gốc đồng, nợ lãi trong hạn đồng; Nợ trên gốc quá hạn đồng; Nợ trên lãi quá hạn đồng. Nếu Công ty không trả nợ thì đề nghị Tòa án tiếp tục tính lãi theo hợp đồng tín dụng cho đến ngày Công ty thanh toán được toàn bộ khoản vay. Trường hợp Công ty không thực hiện, hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ Ngâny sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì Dongduong Bank có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự kê biên, phát mại tài sản bảo đảm để trả nợ cho Ngân hàng là Quyền sử dụng đất của ông Lê Văn Kháng. * Nội dung ông Lê Văn Kháng Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày Cuối năm 2013, đầu năm 2014 chị Lê Thị Thu Ngân con gái ông Kháng cần vay vốn để làm ăn; thông qua người quen của chị Ngân nên chị Ngân mới có quen biết với Công ty TNHH Ansaka và bàn bạc thống nhất ông Kháng đứng lên thế chấp tài sản là nhà đất tại số 102, dãy A3, khu tập thể Công ty Máy kéo, phường Yết Kiêu, quận Hà Bình, thành phố HT thế chấp cho Ngân hàng để Ngân hàng cho Công ty vay số tiền VND. Sau khi ông Kháng ký kết hợp đồng thế chấp cho Ngân hàng thì anh Trần Mạnh Thanh – Giám đốc công ty có cho chị Ngân vay số tiền VND hai bên có viết giấy vay tiền. Việc Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất và sở hữu nhà ở của ông Kháng, ông không đồng ý vì ông không biết Dongduong Bank cho Công ty Ansaka vay bao nhiêu tiền. Nay ông Kháng đề nghị Dongduong Bank giải chấp tài sản nhà đất của ông và ông có trách nhiệm trả số tiền VND Công ty Ansaka cho chị Ngân vay. Đến tháng 5/2016 ông nhận được thông báo của Ngân hàng yêu cầu ông phải thực hiện thay nghĩa vụ trả nợ đối với khoản vay của Công ty Ansaka với tổng số tiền là VND. Ông đề nghị Tòa án xem xét giải quyết Hủy hợp đồng thế chấp tài sản của bên thứ ba số 0016/2014/HĐTC/ ký ngày 26/2/2014 và giải chấp tài sản nhà đất cho ông là 40m2 tại địa chỉ số 102, dãy A3 khu tập thể Công ty Máy kéo, phường Yết Kiêu, quận Hà Bình, thành phố HT theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất số BH 965245, số vào sổ cấp GCN CH-02045 do UBND quận Hà Bình, thành phố HT cấp ngày 29/06/2012 cho ông Lê Văn Kháng và bà Phạm Thị Ngân, đã đăng ký sang tên thành tài sản riêng của ông Kháng do nhận thừa kế theo hồ sơ số 24378 ngày 19/11/2013, địa chỉ Số nhà 102 dãy A3 khu thập thể Công ty Máy kéo, phường Yết Kiêu, quận Hà Bình, thành phố HT. II. QUAN ĐIỂM BẢO VỆ CỦA EQUITY LAW Chúng tôi cho rằng, Hợp đồng thế chấp tài sản đảm bảo là Giấy chứng nhận QSDĐ của bên thứ ba số 0016/2014/HĐTC/ ký ngày 26/02/2014 giữa bên nhận thế chấp DongduongBank PGD Lê Văn Lương và ông Lê Văn Kháng “Hợp đồng thế chấp” là hợp đồng vô hiệu. Bởi lí do sau 1. Hợp đồng thế chấp được ký kết dựa trên thông tin gian dối, sai sự thật do sự chỉ dẫn, xúi giục của anh Nguyễn Anh Đức – cán bộ Dongduong Bank – Con ông Lê Văn Kháng là chị Lê Thị Thu Ngân Sinh năm 1982 có chồng là anh Trần Duy Hiển đã mất, chị có hai người con cháu Trần Đức Thiện, sinh năm 2002 và cháu Nguyễn Khánh Linh, sinh năm 2011. Sau khi chồng chị Ngân qua đời, chị Ngân đã đưa con về ở với ông Kháng. Năm 2012 vợ ông Kháng mất do bệnh hiểm nghèo, ông Kháng cùng chị Ngân cùng nuôi hai cháu nhỏ ăn học, do đó cuộc sống dần rơi vào hoàn cảnh vô cùng khó khăn. Đến năm 2013, đầu năm 2014, do chị Ngân có nguyện vọng muốn vay một số tiền VND để làm vốn kinh doanh kiếm tiền nuôi hai con nhỏ học hành và bố già yếu. Khi đó, chị Ngân được anh Đức hứa hẹn giúp đỡ và đưa đi gặp ông Trần Mạnh Thanh – là Giám đốc Công ty TNHH Ansaka. Anh Đức đã đưa ra thông tin cho chị Ngân là muốn vay được tiền thì phải dùng Giấy chứng nhận nhà đất của ông Kháng để thế chấp cho khoản vay .000 VND mà không phải khoản vay VND cho Công ty TNHH Ansaka như thực tế hồ sơ ông Đức tạo lập, lừa ông Kháng ký kết. Tại đây, sau khi các bên thống nhất, chị Ngân đã ký vào Hợp đồng vay vốn đề ngày 01/03/2014 và Giấy vay tiền trong đó thể hiện nội dung “Công ty TNHH Ansaka cho chị vay số tiền là 150 triệu đồng và chị đồng ý thế chấp tài sản là bất động sản tại địa chỉ số nhà 102 Dãy A3 Khu Tập thể Công ty Máy kéo, phường Yết Kiêu, quận Hà Đồng, HT mang tên ông Lê Văn Kháng đề vay nhờ Công ty TNHH Ansaka vay vốn tại Ngân hàng TMCP Đông Dương với số tiền 150 triệu đồng đợt 1 100 triệu; đợt 2 50 triệu”. Như vậy, bản thân chị Ngân đã bị ông Nguyễn Anh Đức lừa về số tiền cho vay khi ký Hợp đồng thế chấp. Chị Ngân tin tưởng vào Nguyễn Anh Đức về việc thế chấp nhà đất chỉ đảm bảo cho khoản vay VND; do vậy, chị Ngân cũng chỉ về nhà hướng dẫn cho ông Kháng ký hồ sơ để đảm bảo cho khoản vay VND không liên quan đến khoản vay VND của Công ty TNHH Ansaka. Sau đó anh Đức khẳng định với chị Ngân Công ty TNHH Ansaka vay tiền của Ngân hàng DongduongBank đã cầm cố toàn bộ lô hàng hình thành từ vốn vay theo Hợp đồng kinh tế được ký giữa Công ty TNHH Ansaka và Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Sản xuất Ngọc Phương, nên việc thế chấp tài sản của ông Kháng cho Ngân hàng chỉ là thủ tục và làm đẹp hồ sơ chứ không ảnh hưởng gì đến tài sản của ông Kháng. Nội dung này đã được chị Ngân xác nhận tại phiên tòa hôm nay; cũng như trong toàn bộ tiến trình tố tụng và những bản khai của ông Trần Mạnh Thanh – Giám đốc Công ty TNHH Ansaka. Cụ thể, tại Biên bản lấy lời khai ngày 30/9/2015, ông Thanh khai “Thực tế việc ông Kháng đứng ra thế chấp ngôi nhà này tôi không được biết, cán bộ tín dụng chỉ nói với tôi về việc đưa tài sản thế chấp của ông Kháng này vào để làm đẹp hồ sơ thôi”. Lời khai của chị Ngân và ông Thanh hoàn toàn phù hợp với trùng hợp với diễn biến thực tế và các chứng cứ khác trong vụ án. Xem xét Hợp đồng thế chấp, chỉ thể hiện có chữ ký của ông Kháng và Dongduong Bank; không có chữ ký hay cam đoan, bảo đảm nào của Công ty TNHH Ansaka với vai trò là bên được bảo đảm theo Hợp đồng. – Do tin vào những thông tin mà anh Đức đưa ra, nên chị Ngân đã nói với bố chị là dùng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà để thực hiện thế chấp theo yêu cầu của anh Đức chỉ thế chấp đảm bảo cho khoản vay VND. Xuất phát từ lòng thương con, thương cháu nên ông Kháng đã thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất số BH 865245, sổ vào sổ cấp GCN CH – 02045 do UBND quận Hà Bình, thành phố HT cấp ngày 29/06/2012 cho DongduongBank để cho chị Ngân được vay tiền lấy vốn làm ăn. Và do đã già yếu nên trình tự thủ tục vay như thế nào ông Kháng còn không hiểu, mọi thủ tục, giấy tờ đều do anh Đức làm và đưa cho ông Kháng ký. Khi ký hồ sơ này, ông Kháng chỉ hiểu là hoàn thiện thủ tục để cho con gái vay VND. Nếu biết việc thế chấp để cho Công ty TNHH Ansaka vay VND thì chắc chắn ông Kháng không bao giờ đánh đổi bằng tài sản mình tích góp cả đời có được. Mãi sau này chị Ngân và ông Kháng mới biết, việc ông Kháng ký Hợp đồng thế chấp tài sản của bên thứ ba số 0016/2014/HĐTC/ ngày 26 tháng 02 năm 2014 giữa bên nhận thế chấp Dongduong Bank PGD Lê Văn Lương và bên thế chấp ông Lê Văn Kháng là để đảm bảo cho khoản vay 000 VND theo Hợp đồng tín dụng được ký giữa Dongduong Bank và Công ty TNHH Ansaka chứ không phải là để đảm bảo khoản vay 000 VND như thông tin anh Đức đã nói. – Điều 132 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về giao dịch dân sự vô hiệu do lừa dối như sau “Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa thì có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu. Lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó”. Như vậy có thể thấy, trên thực tế, anh Đức đã cố tình đưa ra những thông tin không đúng sự thật để khiến ông Kháng và chị Ngân tin rằng việc ký Hợp đồng thế chấp chỉ để đảm bảo cho khoản vay VND cho chị Ngân. Chị Ngân và ông Kháng tại thời điểm ký kết đều đã bị anh Đức lừa dối, hành vi của anh Đức đã gây thiệt hại nghiêm trọng đến quyền và lợi ích của ông Kháng và gia đình của ông. 2. Ông Kháng và Công ty Ansaka không có bất kỳ một mối quan hệ gì Ông Lê Văn Kháng tại thời điểm ký Hợp đồng thế chấp đã gần 80 tuổi. Ông Kháng bệnh tật triền miên, hiện nay vẫn đang phải điều trị nội trú tại Bệnh viện. Trước vụ việc này, ông Kháng không có bất kỳ mối liên hệ, quen biết, hợp tác, làm ăn nào với Công ty TNHH Ansaka. Bản thân người đại diện theo pháp luật của Công ty Ansaka cũng không biết ông Kháng là ai. Việc ông Kháng thế chấp nhà đất là nơi ăn, chốn ở duy nhất của mình để đảm bảo nghĩa vụ cho một người xa lạ là hoàn toàn phi lý. Nội dung này được thể hiện rõ trong toàn bộ lời khai và tiến trình tố tụng đến nay. Tại Bản tự khai đề ngày 25/12/2016, ông Trần Mạnh Thanh đã khai “…Công ty Ansaka không có quen biết quan hệ gì với Lê Văn Kháng. Và việc ông Lê Văn Kháng thế chấp tài sản cho ngân hàng để đảm bảo khoản vay của Công ty Ansaka theo hợp đồng tín dụng 26/2/2014 là không đúng sự thật và công ty không được biết vì không biết nên hợp đồng thế chấp tài sản của bên thứ 3 không có chữ ký và con dấu…” Tại Biên bản lấy lời khai đề ngày 15/11/2019, ông Thanh có khai “….Khi ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng để vay số tiền đồng, để đảm bảo khoản vay giữa công ty và ngân hàng đã ký hợp đồng cầm cố tài sản hình thành từ vốn vay ngày 28/02/2014 số PGD LEVANLUONG, theo đó tài sản cầm cố là 350 bình nước nóng ROSSI loại 15l, 20l, 30l theo hợp đồng kinh tế số 05…..Tuy nhiên, trong hợp đồng tín dụng công ty ký với ngân hàng thể hiện thêm tài sản bảo đảm là quyền sử dụng nhà đất của ông Lê Văn Kháng để đảm bảo khoản vay cho công ty Ansaka. Trước khi ký hợp đồng, tôi có hỏi về vấn đề này thì ngân hàng nói bổ sung thêm tài sản bảo đảm này để làm đẹp hồ sơ chứ thực tế tôi không có quen biết hay có quan hệ gì khác với ông Lê Văn Kháng…Nay ngân hàng yêu cầu được phát mại nhà đất trên tôi không đồng ý đề nghị Tòa án không chấp thuận yêu cầu của ngân hàng…” Như vậy, có thể thấy, giữa ông Kháng và Công ty TNHH Ansaka không hề có bất kỳ một mối quan hệ, quen biết nào, ông Kháng không thể dùng Tài sản là nơi ở trực tiếp duy nhất, cũng là nơi hương hỏa, thờ phụng ông bà tổ tiên và vợ của mình để đi thế chấp nhằm bảo đảm nghĩa vụ cho Công ty Ansaka. Chính anh Nguyễn Anh Đức là người đã cố ý thực hiện những hành vi gian dối, hướng dẫn ông Kháng và gia đình vay vốn không phù hợp và không đúng với quy định pháp luật, để nhằm làm cho gia đình ông Kháng, và ông Kháng ký vào Hợp đồng thế chấp nêu trên, dẫn đến gia đình ông Kháng phải chịu trách nhiệm nặng nề, vượt quá khả năng của mình đối với khoản nợ của Công ty TNHH Ansaka. 3. Tại thời điểm giao kết Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp, tất cả các bên liên quan đều thống nhất và hiểu rằng Thực tế tài sản đảm bảo cho khoản vay VND của Công ty TNHH Ansaka chỉ bao gồm lô hàng 350 bình nước nóng Rossi theo Hợp đồng cầm cố tài sản, không bao gồm nhà đất của ông Lê Văn Kháng Tại Biên bản lấy lời khai của đương sự đề ngày 30/6/2020, anh Thanh đã khai “..Ngân hàng cho Công ty TNHH Ansaka vay số tiền đồng là dựa trên hợp đồng mua bán giữa Công ty Ansaka và Công ty Ngọc Phương trị giá bằng lô hàng là 350 bình nước nóng ….phía Ngân hàng cho Công ty Ansaka vay bằng giá trị đảm bảo 100% tài sản thế chấp đảm bảo khoản vay được hình thành sau vốn vay…”. Tại Biên bản lấy lời khai đề ngày 15/11/2019 nêu trên cũng thể hiện rõ việc bổ sung tài sản thế chấp là nhà đất của ông Kháng chỉ để làm đẹp hồ sơ Ngân hàng. Đây là chiêu trò của cán bộ Ngân hàng nhằm lừa đảo người dân kém hiểu biết như ông Kháng. Trên thực tế, giá trị lô hàng 350 bình nước nóng đã được Dongduong Bank định giá với giá trị là VND Sáu trăm chín mươi triệu đồng. Khoản vay VND của Công ty TNHH Ansaka chỉ chiếm 72% giá trị tài sản đảm bảo. Vì vậy, trên thực tế, việc bổ sung tài sản thế chấp là nhà đất của ông Kháng trị giá VND là không cần thiết trên thực tế trừ trường hợp có sự móc nối, câu kết, lừa đảo của Dongduong Bank. Khi ký hồ sơ, ông Kháng và gia đình luôn tin tưởng vào những lời dụ dỗ của cán bộ ngân hàng Dongduong Bank, tin rằng tài sản của mình chỉ đảm bảo cho khoản vay VND của con gái; và không liên quan đến khoản vay VND của Công ty TNHH Ansaka và thực tế sẽ không bao giờ bị kê biên, phát mại để thanh toán thay nghĩa vụ của Công ty TNHH Ansaka. Do vậy, ông Kháng đã bị lừa dối khi tham gia giao dịch, ký Hợp đồng thế chấp; Hợp đồng thế chấp vô hiệu và không có giá trị pháp lý từ thời điểm giao kết. III. KẾT LUẬN Như vậy, việc ông Kháng ký vào Hợp đồng thế chấp trên là bị lừa dối. Hành vi của anh Nguyễn Anh Đức đã xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Lê Văn Kháng. Do đó Hợp đồng thế chấp tài sản của bên thứ ba số 0016/2014/HĐTC/ ký ngày 26/02/2014 giữa bên nhận thế chấp DongduongBank PGD Lê Văn Lương và ông Lê Văn Kháng bị vô hiệu theo quy định của pháp luật. Ngân hàng TM TNHH MTV Đông Dương có nghĩa vụ bàn giao lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê Văn Kháng. Trên đây là tư vấn của EQUITY LAW FIRM về “VỤ ÁN TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG“ LIÊN HỆ LUẬT SƯ TƯ VẤN TRỰC TIẾP 078 569 0000 – 0969 099 300 Phụ trách nội dung ThS. LS. Phan Công Tiến – Luật sư điều hành Equity Law Firm Địa chỉ Tầng 5, Tòa nhà Bình Vượng Tower, số 200 đường Quang Trung, phường Quang Trung, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội. Email tienpc – luatsucongtien Fanpage Zalo liên hệ Luật sư Quét mã QR Zalo Luật sư Bạn có thể tham khảo các bài viết liên quan của Equity Law Firm XỬ LÝ TÀI SẢN THẾ CHẤP THẾ CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT KHI CÓ NHÀ RIÊNG CỦA THÀNH VIÊN HỘ GIA ĐÌNH TRÊN ĐẤT HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG DÂN SỰ THỦ TỤC LẬP DI CHÚC – ĐIỀU KIỆN ĐỂ DI CHÚC HỢP PHÁP Bình luận
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨ THƯ, TỈNH THÁI BÌNHBẢN ÁN 11/2022/DS-ST NGÀY 29/09/2022 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNGNgày 29 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 20/2022/TLST-DS ngày 26 tháng 7 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2022/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 8 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2022/QĐST-DS ngày 19 tháng 9 năm 2022 giữa- Nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S;Địa chỉ Lầu x, xyz - ABC Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường S, Quận D, Thành phố Hồ Chí đại diện theo pháp luật Bà Nguyễn Đức Thạch Đ, chức vụ Tổng Giám đại diện theo ủy quyền Ông Nguyễn Đăng D, chức vụ Giám đốc Ngân hàng TMCP S chi nhánh Thái Bình theo quyết định v/v ủy quyền ký hợp đồng, thỏa thuận, văn bản và tham gia tố tụng số 3161/2021/QĐ-PL ngày 27/12/2021.Người được ủy quyền lại Ông Phan Thanh L, chức vụ Chuyên viên kiểm soát rủi ro Ngân hàng TMCP S chi nhánh Thái Bình; địa chỉ Số K Trần Thái Tông, tổ V, phường B, thành phố T, tỉnh Thái Bình theo giấy ủy quyền số 02/2022/GUQ-CNTB ngày 31 tháng 5 năm 2022.- Bị đơn Chị Lưu Thị Vân H, sinh năm 1981; địa chỉ Thôn Th, xã Th, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.Ông L có đơn xin xét xử vắng mặt. Chị H vắng mặt.NỘI DUNG VỤ ÁN* Tại đơn khởi kiện đề ngày 31 tháng 5 năm 2022 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bàyNgày 05 tháng 8 năm 2022, chị Lưu Thị Vân H có ký với Ngân hàng thương mại cổ phần S sau đây gọi tắt là Ngân hàng - Chi nhánh Thái Bình Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng - được gọi chung là Hợp đồng. Căn cứ thu nhập của chị H, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân, ngày chốt thông báo giao dịch là ngày 22 hàng tháng. Lãi suất trong hạn tại thời điểm làm thẻ là 2,6%/tháng, lãi suất quá hạn là 150% của lãi suất trong hạn, lãi được tính trên từng giao dịch phát sinh theo từng ngày và theo lãi suất Ngân hàng áp dụng vào từng thời điểm khác nhau. Theo Hợp đồng, chị H phải chịu các khoản phí theo quy định tại Điều 25 của Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, chị H đã thực hiện giao dịch rút tiền mặt tại máy ATM với tổng số tiền là quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến ngày 22 tháng 10 năm 2021, chị H đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền đồng. Số tiền đồng được thanh toán áp dụng theo Điều 21 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng, cụ thể như sau “Điều 21. Thứ tự ưu tiên thanh toán Trừ trường hợp Sacombank có quy định khác, việc thanh toán sẽ được áp dụng theo thứ tự như saua Các khoản phí và/ hoặc lãi của kỳ trước; b Giao Dịch Rút Tiền Mặt/tương đương Rút Tiền Mặt của kỳ trước; c Giao Dịch Mua Hàng Hóa/Thanh Toán Thẻ Trực Tuyến của kỳ trước; d Các khoản phí và/ hoặc lãi trong kỳ; e Giao Dịch Rút Tiền Mặt/tương đương Rút Tiền Mặt trong kỳ; f Giao Dịch Mua Hàng Hóa/Thanh Toán Thẻ Trực Tuyến trong kỳ”. Từ ngày 22 tháng 01 năm 2022 đến nay, chị H không thanh toán cho Ngân hàng bất cứ khoản tiền nào khác. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng chị H vẫn không có thiện chí trả nợ. Do chị H vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên theo quy định của Ngân hàng sau 3 kỳ thông báo giao dịch liên tiếp, chị H không thực hiện việc trả nợ thì Ngân hàng sẽ chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá vậy, từ ngày 22 tháng 01 năm 2022 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ chị H còn thiếu sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 29 tháng 9 năm 2022, chị H còn nợ Ngân hàng số tiền nợ gốc là đồng nợ phát sinh đầu kỳ 22 tháng 01 năm 2022 + giao dịch + phí trễ hạn + lãi + phí - thanh toán và nợ lãi quá hạn tiền lãi quá hạn được tính trên số tiền nợ gốc đồng với lãi suất quá hạn là 3,9%/1 tháng 2,6%*150% từ ngày ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ chị H còn thiếu sang nợ quá hạn cho đến ngày chị H thanh toán tiếp theo và lãi tiếp tục phát sinh trên dư nợ gốc còn tiền nợ lãi quá hạn đồng yêu cầu chị H thanh toán cho Ngân hàng bao gồm tiền lãi từ ngày 22/01/2022 đến ngày 29/9/2022, có công thức tính như sau Lãi 1 ngày là đồng x 3,9%/30 = đồng. Từ ngày 22/01/2022 đến ngày 22/02/2022 có 31 ngày với số tiền lãi là x 31 = đồng. Từ ngày 22/02/2022 đến ngày 22/03/2022 có 28 ngày với số tiền lãi là x 28 = đồng. Từ ngày 22/03/2022 đến ngày 22/04/2022 có 31 ngày với số tiền lãi là x 31 = đồng. Từ ngày 22/04/2022 đến ngày 22/05/2022 có 30 ngày với số tiền lãi là x 30 = đồng. Từ ngày 22/05/2022 đến ngày 22/06/2022 có 31 ngày với số tiền lãi là x 31 = đồng. Từ ngày 22/06/2022 đến ngày 21/07/2022 có 29 ngày với số tiền lãi là x 29 = đồng. Từ ngày 22/07/2022 đến ngày 22/08/2022 có 31 ngày với số tiền lãi là x 31 = đồng. Từ ngày 22/08/2022 đến ngày 22/09/2022 có 31 ngày với số tiền lãi là x 31 = đồng. Từ ngày 22/09/2022 đến ngày 29/09/2022 có 7 ngày với số tiền lãi là x 7 = đồng.Đến nay Ngân hàng đề nghị Toà giải quyết Buộcc chị H phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm 29 tháng 9 năm 2022 là đồng trong đó nợ gốc là đồng, lãi quá hạn là đồng. Chị H có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh sau ngày xét xử cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.* Chị Lưu Thị Vân H đã được Tòa án triệu tập để trình bày quan điểm của mình đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, tham gia phiên tòa, nhưng chị H đều vắng mặt không lý do. Vì vậy chị H không thể hiện quan điểm của mình trong vụ án.* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Thư ký thực hiện đúng quy định pháp luật tố tụng. Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định về quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn không chấp hành các quy định về quyền và nghĩa vụ của mình. Về nội dung vụ án Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 117, Điều 119, Điều 280, Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; Khoản 16 Điều 4; Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 7, Điều 8, Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, buộc chị H phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền đồng trong đó nợ gốc là đồng, lãi quá hạn là đồng. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, chị Lưu Thị Vân H còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng. Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp ĐỊNH CỦA TÒA ÁNSau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định[1] Về quan hệ tranh chấp và Tòa án có thẩm quyền giải quyết Ngân hàng thương mại cổ phần S khởi kiện yêu cầu chị Lưu Thị Vân H trả nợ gốc và lãi theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết, chị Lưu Thị Vân H cư trú tại xã Th, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Căn cứ quy định khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là vụ án “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.[2] Về thủ tục tố tụng Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.[3] Nội dung[ Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy Thỏa thuận của Ngân hàng và chị H trong Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng ngày 05 tháng 8 năm 2020 được ký kết trên cơ sở tự nguyện, nội dung hợp đồng không trái đạo đức xã hội, thỏa thuận của các bên phù hợp với quy định tại Điều 116, Điều 117 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên xác định Hợp đồng là hợp pháp.[ Sau khi được cấp thẻ tín dụng, chị H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền đồng. Theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng vào ngày 22 hàng tháng, chị H phải thanh toán nợ cho Ngân hàng nhưng đến ngày 22 tháng 01 năm 2022 chị H mới thanh toán cho Ngân hàng được số tiền đồng. Từ ngày 22/01/2022 đến nay chị H không trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc, lãi theo thỏa thuận. Do chị H vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo quy định của Ngân hàng trong 3 kỳ thông báo giao dịch liên tiếp 22/11/2021;22/12/2021; 22/01/2022 nên Ngân hàng chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn tính từ ngày 22/01/2022 với mức lãi suất các bên thỏa thuận bằng 150% mức lãi trong hạn. Chị H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự; vi phạm Điều 19, Điều 24 của bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Điều 24 quy định “Việc không thanh toán ít nhất Số Tiền Tối Thiểu của Chủ Thẻ cho đến kỳ TBGD tiếp theo sẽ tạo nên sự vi phạm theo Hợp Đồng. Khi vi phạm xảy ra, Chủ Thẻ hiểu và đồng ý rằng Sacombank có thể thực hiện một hoặc nhiều hành động sau Tạm ngưng hoặc Chấm Dứt sử dụng Thẻ và thu hồi toàn bộ Dư Nợ; Áp dụng lãi suất quá hạn đối với toàn bộ Dư nợ theo quy định của Sacombank. Sau 75 ngày kể từ ngày lập TBGD hoặc sau 03 ba kỳ TBGD liên tiếp, nếu Chủ Thẻ không thanh toán hoặc thanh toán ít hơn Số Tiền Tối Thiểu, Sacombank sẽ chấm dứt việc sử dụng thẻ của Chủ Thẻ”.[ Về số tiền gốc và lãi theo yêu cầu của Ngân hàng phù hợp với Điều 19; Điều 23 và Điều 24 của bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng “ Chủ thẻ phải thanh toán cho Sacombank số tiền đến hạn hoặc số tiền tối thiểu vào hoặc trước ngày đến hạn được ghi trên thông báo giao dịch”; chi tiết Điều 23 quy định “Cách tính lãi Chủ thẻ đồng ý thanh toán lãi phát sinh trên thẻ. Lãi được tính như sau a Đối với giao dịch mua hàng hóa/thanh toán thẻ trực tuyến không áp dụng với thẻ nội địa, phí, lệ phí Nếu chủ thẻ không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ Số Tiền Đến Hạn vào hoặc trước ngày đến hạn, chủ thẻ phải thanh toán lãi cho Sacombank đối với tất cả các khoản nợ được thể hiện trong Thông báo giao dịch hiện tại và đối với bất kỳ khoản nợ nào phát sinh sau đó trên Thẻ cho đến khi toàn bộ các khoản nợ đến hạn ghi trong TBGD mới nhất được thanh toán vào hoặc trước ngày đến hạn. Lãi được tính từ ngày giao dịch cho đến hết ngày việc thanh toán được thực hiện đầy đủ. Nếu chủ thẻ thanh toán toàn bộ số tiền đến hạn vào hoặc trước ngày đến hạn theo TBGD thì chủ thẻ được miễn lãi đối với tất cả các giao dịch tại TBGD hiện tại. Giao dịch rút tiền mặt/tương đương rút tiền mặt Lãi được tính từ ngày chủ thẻ thực hiện giao dịch cho đế hết ngày chủ thẻ thanh toán toàn bộ số tiền đã sử dụng/đã rút. Sacombank có quyền sửa đổi mức lãi suất trong từng thời kỳ theo quyết định của mình mà không cần thông báo trước cho chủ thẻ”. Do vậy yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng về việc buộc chị H phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm số tiền gốc là đồng, lãi quá hạn là đồng; tổng cộng là đồng và chị H có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh sau ngày xét xử cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng, Điều 280 Bộ luật Dân sự 2015 và các Điều 7, 8, 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ- HĐTP ngày 11/01/2019 của hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.[ Về án phí dân sự sơ thẩm Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là đồng. Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ các lẽ trên, QUYẾT ĐỊNHCăn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 147, 227, 228, 238, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 117, 119, 280, 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 7, Điều 8, Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ- HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S Buộc chị Lưu Thị Vân H phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền nợ gốc, nợ lãi phát sinh theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng ngày 05/8/2020 số tiền là Nợ gốc là đồng, nợ lãi quá hạn tính đến ngày 29/9/2022 là đồng, tổng cộng đồng Ba mươi triệu hai trăm bảy mươi hai nghìn tám trăm bốn mươi hai đồng.Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm chị Lưu Thị Vân H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này cho Ngân hàng. Lãi suất mà chị Lưu Thị Vân H phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần S sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng thương mại cổ phần S.[2] Về án phí Buộc chị Lưu Thị Vân H phải nộp Một triệu năm trăm mười ba nghìn đồng án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0001259 ngày 25 tháng 7 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.[3] Về quyền kháng cáo Ngân hàng thương mại cổ phần S, chị Lưu Thị Vân H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ XUYÊN, TỈNH SÓC TRĂNGBẢN ÁN 04/2022/KDTM-ST NGÀY 20/09/2022 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG Bản án không thuộc trường hợp được công bố theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Nghị quyết 03/2017/NQ-HĐTP và Công văn 144/TANDTC-PC năm 2017 Nguồn
bình luận bản án tranh chấp hợp đồng tín dụng